Giải Mã Bức Tranh Nợ Công ASEAN: Lời Giải Nào Cho Các Siêu Dự Án Của Việt Nam?
Khi nhìn vào bản đồ nợ công Đông Nam Á năm 2025, những con số tỷ lệ phần trăm dường như đang kể lại những câu chuyện kinh tế hoàn toàn trái ngược nhau. Nợ công, trên thực tế, không phải lúc nào cũng là một "gánh nặng". Ranh giới giữa "nợ tốt" và "nợ xấu" phụ thuộc hoàn toàn vào cách các quốc gia huy động và sử dụng nguồn vốn đó. Sự phân hóa sâu sắc của khu vực ASEAN hiện nay chính là minh chứng rõ nét nhất cho triết lý này.
Nghịch lý Singapore: Con nợ lớn nhất, nhưng cũng là chủ nợ giàu nhất
Nhiều người sẽ giật mình khi thấy một quốc gia phát triển rực rỡ như Singapore lại oằn mình cõng khối nợ công lên tới 176% GDP. Tuy nhiên, giới tài chính toàn cầu không hề lo ngại về con số này. Khác với các nước đang phát triển phải đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách hay trả lương bộ máy, Chính phủ Singapore đi vay thuần túy để... đầu tư sinh lời.
Phần lớn nợ của Singapore là nợ trong nước, phát hành thông qua Quỹ Tiền phòng xa Trung ương (CPF) – một dạng quỹ hưu trí bắt buộc của người dân. Chính phủ dùng số tiền này giao cho các quỹ đầu tư quốc gia khổng lồ như GIC hay Temasek để thâu tóm tài sản trên toàn cầu. Lợi nhuận thu về từ các khoản đầu tư này luôn cao hơn lãi suất phải trả cho người dân. Nhờ vậy, nếu xét về "nợ ròng" (lấy tổng tài sản trừ đi tổng nợ), Singapore thực chất là một chủ nợ khổng lồ với thặng dư tài chính bậc nhất thế giới. Con số 176% vì thế không phải là gánh nặng, mà là một đòn bẩy tài chính siêu việt của một trung tâm tư bản toàn cầu.
Thái Lan và Malaysia: Cơn đau đầu của bẫy thu nhập trung bình
Trái ngược với sự ung dung của Singapore, mức nợ 65% của Thái Lan và 70% của Malaysia lại đang bộc lộ những điểm nghẽn mang tính cơ cấu. Đối với Thái Lan, dân số già hóa nhanh chóng cùng những hệ lụy để lại từ các gói kích thích kinh tế khổng lồ thời đại dịch đã đẩy nợ công lên sát mức trần cho phép (70%). Không chỉ nợ chính phủ, nợ hộ gia đình của Thái Lan cũng đang ở mức báo động đỏ, khiến sức mua nội địa suy kiệt.
Trong khi đó, Malaysia từng phải nâng trần nợ công lên 65% để có dư địa xoay sở sau đại dịch, nhưng hiện tại con số này đã bị phá vỡ. Việc gánh khoản nợ lớn khiến ngân sách của hai quốc gia này bị chèn ép nặng nề bởi chi phí trả lãi hàng năm. Hệ quả là họ thiếu hụt nguồn lực tươi mới để đầu tư cho các dự án công nghệ cao hay hạ tầng đột phá, khiến nền kinh tế ngày càng khó bứt rứt khỏi "bẫy thu nhập trung bình". Đây là một ví dụ điển hình của việc nợ công trở thành lực cản tăng trưởng.
Indonesia và Philippines: Đánh cược vào đòn bẩy hạ tầng
Ở nhóm giữa, Indonesia (41%) và Philippines (58%) đang cho thấy một chiến lược sử dụng nợ khá năng động và có tính toán. Cả hai quốc gia đông dân này đều đang trong giai đoạn "đói" cơ sở hạ tầng. Trong những năm qua, họ chấp nhận đẩy nợ công lên cao hơn để phục vụ các đại kế hoạch như "Build Better More" (Xây dựng tốt hơn nữa) của Philippines hay tham vọng dời đô và xây cao tốc của Indonesia.
Với lợi thế cơ cấu dân số vàng và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, khối nợ này được đánh giá là "nợ tốt" vì nó trực tiếp tạo ra tài sản quốc gia (đường sá, cầu cảng), từ đó kích thích sản xuất và thu hút FDI. Quy mô kinh tế phình to sẽ tự động pha loãng tỷ lệ nợ/GDP trong dài hạn. Dù vậy, áp lực trả nợ ngắn hạn của họ vẫn là một rào cản cần được theo dõi sát sao.
Việt Nam: Dư địa vàng cho kỷ nguyên của các siêu dự án
Nhìn từ bài học của các nước láng giềng, con số nợ công 32% GDP của Việt Nam không chỉ là một chỉ số an toàn, mà thực sự là một "mỏ vàng" về dư địa tài khóa. Theo quy định, Quốc hội Việt Nam cho phép trần nợ công lên tới 60% GDP. Việc chúng ta kiểm soát nợ ở mức 32% (tức là chỉ xấp xỉ một nửa hạn mức cho phép) đồng nghĩa với việc Chính phủ đang có một khoảng trống tài chính khổng lồ, ước tính hàng trăm tỷ USD, có thể huy động bất cứ lúc nào mà không đẩy nền kinh tế vào vùng rủi ro.
Đây chính là thiên thời, địa lợi để Việt Nam mạnh dạn mở hầu bao, tăng cường vay vốn (cả trong nước và quốc tế với lãi suất ưu đãi) để hiện thực hóa những đại dự án thay đổi vận mệnh quốc gia. Chúng ta hoàn toàn có đủ tiềm lực tài chính để gánh vác siêu dự án Đường sắt cao tốc Bắc - Nam (ước tính 67 tỷ USD) - công trình sẽ định hình lại toàn bộ trục logistics và phân bổ dân cư của đất nước.
Hơn thế nữa, để giải quyết bài toán năng lượng cho nền công nghiệp bán dẫn và AI trong tương lai, Việt Nam có thể tự tin tái khởi động và vay vốn đầu tư cho các dự án Điện hạt nhân. Những dự án tỷ đô này dù đòi hỏi vốn lớn ban đầu, nhưng lại tạo ra sức bật vĩnh cửu cho nền kinh tế. Chúng ta không vay để tiêu dùng hay trả nợ đậy, mà vay để kiến tạo nền tảng cho một quốc gia phát triển. Việc kìm giữ được nợ công ở mức thấp trong suốt những năm giông bão vừa qua chính là bước lùi chiến lược, tạo thế lò xo nén chặt để Việt Nam bung sức thực hiện những đại công trình của thế kỷ 21.
Mỹ chạm mốc 38 nghìn tỷ USD nợ công, sau tốc độ tăng thêm 1 nghìn tỷ USD nhanh nhất ngoài thời kỳ đại dịch
Kinh tế Việt Nam 5 năm dưới sự dẫn dắt của thủ tướng Phạm Minh Chính
Thu chi ngân sách các nước Đông Nam Á năm 2025 - Việt Nam đứng ở đâu?
Kinh tế ASEAN: Việt Nam "chốt sổ" 2025 rực rỡ, hướng tới kỷ lục tăng trưởng 2026
Cú "soán ngôi" lịch sử sau hơn 35 năm: Khi người Thái nhìn Việt Nam vượt mặt